09:12 ICT Thứ hai, 20/11/2017

Góc nhìn HIV»Kiến thức cơ bản về HIV/AIDS

HIV - Những vấn đề cơ bản

Thứ ba - 05/07/2011 18:31

I. MỘT SỐ ĐỊNH NGHĨA
 

  • HIV ( Human Immuno-deficiency virus): virus gây suy giảm miễn dịch ở người.
  • AIDS ( acquired immnuno-deficiency syndorme)
  • SIDA ( Syndrome d’immuno-deficience acquise): từ tiếng pháp của AIDS
  • MSM : men who have sex with men: nam có quan hệ tình dục với nam.
     

II. LỊCH SỬ
 

  • 5/6/1981: Ghi nhận những trường hợp viêm phổi do Pneumocystis Carinii nam thanh niên đồng tính. Thời điểm này, ghi nhận thêm 5 trường hợp tương tự và 26 trường hợp ung thư Kaposi Sacroma. Đây là những bệnh thường gặp ở đối tượng suy giảm miễn dịch. Và tất cả những trường hợp này đều xảy ra ở đàn ông có quan hệ tình dục đồng giới.
  • 1982: AIDS được đặt tên cho bệnh suy giảm miễn dịch này, thay thế cho cái tên GRID (Gay Related Immune Deficiency) trước đó.
  • 1983: siêu vi HIV được tìm ra và được chứng minh là tác nhân gây AIDS. Thời điểm này, dịch bệnh HIV/AIDS xuất hiện ở người hoạt động tình dục dị tính ở Châu Phi.
  • 1985: Thử nghiệm đầu tiên tìm kháng thể HIV.
  • 1988: Thuốc trị bệnh AIDS đầu tiên Zidovudine (AZT) được sử dụng tại Mỹ.
  • 2003: WHO và UNAIDS đặt kế hoạch phát thuốc chữa HIV cho 3 triệu người khó khăn kinh tế trên thế giới.


III. TÁC NHÂN GÂY BỆNH

HIV thuộc họ Retroviridae.  
 


Hình dạng HIV

 
 

 
 

Qua kính hiển vi điện tử, HIV là 1 khối đa giác có 2 lớp vỏ với nhiều tua bề mặt ( gp 120 nhô ra ngoài và gp41 nằm xuyên qua lớp vỏ). Bên trong là capsid chứa đôi dây RNA, men sao chép ngược và Protein p24.


Quá trình sinh sản của HIV trong cơ thể:

-Khởi đầu gp120 gắn vào bề mặt tế bào.
-Kế đến gp41 trung gian hòa màng và virus đi vào trong tế bào.
-Sau khi cởi bỏ áo ngoài, men sao chép nguợc chuyển RNA virus thành DNA để gắn vào tế bào ký chủ.
-DNA virus được chuyển mã thành mRNA, tạo ra protein cấu trúc của virus.
-Virion giải phóng ra khỏi tế bào bằng cách nẩy chồi.
 
 


 


Tế bào đích của HIV chủ yếu là lympho T CD4, là lympho bào có vai trò quan trọng trong đáp ứng miễn dịch ỏ người. Bằng cách tấn công tế bào này, HIV làm suy yếu hệ miễn dịch của cơ thể.

IV. DỊCH TỄ HỌC

Dựa theo kết quả thống kê năm 2007 được báo cáo bởi Chương Trình Phối Hợp của Liên Hiệp Quốc về HIV/AIDS (UNAIDS), đã có tổng cộng khoảng 25 triệu người chết vì AIDS trong vòng 27 năm.

Số bệnh nhân HIV/AIDS theo kết quả thống kê 2007 là 33 triệu. Trong đó số mới mắc bệnh trong năm là 3 triệu cao hơn số mới mắc bệnh năm 2001 là 2,7 triệu. Số tử vong trong năm là 2 triệu., tăng hơn 0,3 triệu so với năm 2001.

Trong đó, 35% số trường hợp HIV/AIDS và 38% số tử vong nằm ở các quốc gia phía nam Châu Phi.


 


 





Trường hợp nhiễm HIV đầu tiên ở Việt Nam được phát hiện vào tháng 12 năm 1990 tại thành phố Hồ Chí Minh. Nhưng thực sự dịch HIV/AIDS đã bắt đầu bùng nổ từ năm 1993 trong nhóm những người nghiện chích ma túy tại thành phố Hồ Chí Minh. Sau đó dịch bắt đầu lan ra các tỉnh. Đến cuối tháng 12/1998, toàn bộ 61 tỉnh, thành trong cả nước đều đã phát hiện có người bị nhiễm HIV.
 
 

V. BIỂU HIỆN LÂM SÀNG

Biểu hiện lâm sàng của nhiễm HIV rất thay đổi, khởi đầu là giai đoạn nhiễm trùng cấp, tiếp theo là giai đoạn không triệu chứng kéo dài trong nhiều năm, cuối cùng là giai đoạn AIDS với nhiều loại nhiễm trùng cơ hội và/ hoặc bệnh ác tính ( ung thư), đưa bệnh nhân dần dần đến chỗ tử vong.


Hội chứng nhiễm HIV cấp.

Nhiễm HIV-1 cấp biểu hiện ở 40 - 90 % các trường hợp như là một bệnh lý có triệu chứng thoáng qua, với sự nhân bản của HIV-1 ở mức độ cao và đáp ứng miễn dịch đặc hiệu với virus có xu hướng mở rộng. Nhiễm HIV cấp là một chẩn đoán phân biệt quan trọng ở những trường hợp sốt không rõ nguồn gốc, có ban dát sẩn và hạch to.

Chẩn đoán nhiễm virus cấp thường bị bỏ sót ở phần lớn các trường hợp, vì bệnh lý do các virus khác (“cúm”) thường được thừa nhận là nguyên nhân của các triệu chứng, và không có kháng thể đặc hiệu HIV-1 phát hiện được tại giai đoạn nhiễm virus sớm này. Do đó, muốn chẩn đoán cần luôn phải nghĩ đến nó khi có nghi ngờ trên lâm sàng, dựa trên những triệu chứng lâm sàng và bệnh sử phơi nhiễm, kết hợp thêm những xét nghiệm đặc hiệu (phát hiệnHIV-1 RNA hoặc kháng nguyên p24 và kháng thể HIV-1 âm tính) để chứng thực chẩn đoán.

Chẩn đoán sớm chính xác nhiễm HIV-1 cấp là quan trọng, vì có thể ngăn chặn được nhiễm virus cho bạn tình và bệnh nhân có thể được lợi từ việc điều trị tại giai đoạn sớm này của nhiễm virus.

Sau giai đoạn ủ bệnh vài ngày đến vài tuần sau khi phơi nhiễm với HIV, hầu hết các cá thể bị nhiễm biểu hiện với chứng bệnh cấp tính giống cúm. Nhiễm HIV-1 cấp là một hội chứng rất không đồng nhất và các cá nhân biểu hiện triệu chứng nặng hơn trong giai đoạn nhiễm virus cấp và khoảng thời gian của hội chứng nhiễm virus cấp dài hơn có xu hướng tiến triển nhanh hơn tới AIDS.

Theo nghiên cứu của Daar (2001), sốt, ban, đau cơ, đau khớp và vã mồ hôi ban đêm là những yếu tố dự đoán tốt nhất cho nhiễm HIV-1 cấp. Trong nghiên cứu khác, những triệu chứng sốt và ban (đặc biệt khi kết hợp), tiếp theo bởi loét miệng và viêm họng có giá trị dự đoán dương tính cao nhất cho chẩn đoán nhiễm HIV-1 cấp.

Giai đoạn nhiễm trùng tiềm ẩn không triệu chứng

Thời gian từ lúc nhiễm HIV ban đầu đến khi xuất hiện triệu chứng AIDS rất thay đổi, nhưng qua một số nghiên cứu cho thấy ở một người nhiễm HIV không điều trị, thời gian trung bình này vào khoảng 10 năm.

Giai đoạn có triệu chứng

Triệu chứng liên quan đến nhiễm HIV có thể xuất hiện bất kỳ lúc nào trong quá trình nhiễm HIV, tuy nhiên các biến chứng nặng nguy hiểm thường xảy ra vào giai đoạn tế bào lympho T CD4< 200/mm3.Những bệnh này có thể là những bệnh nhiễm trùng cơ hội cũng có thể là bệnh ác tính ( ung thư) thường gọi là những bệnh chỉ điểm của AIDS, vì các tác nhân gây bệnh này hiếm khi gây bệnh cho người miễn dịch bình thường. Khoảng 80% cái chết của bệnh nhân AIDS không phải do trực tiếp của HIV mà liên quan nhiều đến vi trùng. Bệnh cảnh AIDS có thay đổi, bệnh nhân có thể sống lâu hơn nếu như được điều trị tốt và dự phòng tốt.

Giai đoạn AIDS
 

V. ĐƯỜNG LÂY TRUYỀN

3 Đường lây truyền chính
.

  • Quan hệ tình dục: đồng tính, dị tính.
  • Đường máu: truyền máu, ghép tạng, kim tiêm…
  • Mẹ con: trong lúc mang thai, giai đoạn chuyển dạ, cho con bú.

Lây nhiễm ở người trưởng thành

3 nguyên nhân chính của lây nhiễm HIV/AIDS là tình dục đồng tính nam, tình dục dị tính và sử dụng kim tiêm. Trong đó, tình dục đồng tính nam là nguồn lây nhiễm chính và chịu trách nhiệm cho phần lớn các trường hợp lây nhiễm HIV/AIDS hiện nay, nhất là tại các quốc gia phát triển.

">

Biểu đồ phía trên cho thấy xu hướng lây nhiễm HIV/AIDS bởi các nhóm nguyên nhân: tình dục đồng giới, dị giới, sử dụng kim tiêm qua, dựa vào tổng số ca nhiễm được ước lượng và chẩn đoán tại 25 bang của Mỹ từ năm 1994-2006. Nghiên cứu này được khảo sát ở người lớn và trẻ vị thành niên ( >13 tuổi).

Năm 1994, số lượng người nhiễm HIV/AIDS do tình dục đồng giới gần 9000. Trong khi đó, số người nhiễm HIV/AIDS do 2 nguyên nhân còn lại, xấp xỉ khoảng 5000.

Từ 1994-2006, số mới mắc/ năm do tình dục đồng giới dao động không đánh kể quanh trị số ban đầu, số mới mắc/năm do sử dụng kim tiêm giảm xuống dần và còn khoảng 2000người/năm vào cuối năm 2006. Riêng, số mới mắc/năm do tình dục đồng giới, giảm dần từ giai đoạn 1994-1999 xuống còn khoảng 6500 người/năm, sau đó, con số này lại tăng dần trong các năm gần đây, đến năm 2006, số mới mắc/năm đã vượt quá 9000 người/ năm.

Lây nhiễm ở người đồng tính.

Anal sex hay quan hệ tình dục qua đường hậu môn là nguyên nhân lây nhiễm chủ yếu ở người đồng tính.

Oral sex có gây lây nhiễm HIV/AIDS hay không? Đây từng là một câu hỏi gây nhiều tranh cãi trong những năm trước đây. Việc đánh giá chính xác nguy cơ lây nhiễm HIV qua oral sex gặp phải rất nhiều trở ngại, vì 1 người có quan hệ tình dục theo đường miệng, thường kèm theo quan hệ tình dục qua hậu môn. Và khi lây nhiễm thực sự xảy ra, rất khó để xác nhận hành vi tình dục nào thực sự đã gây ra sự lây nhiễm. Đồng thời, QHTD qua đường miệng kèm theo rất nhiều đồng yếu tố: loét miệng, chảy máu nướu răng, đau, lở loét ở cơ quan sinh dục và các bệnh STDs.

Trên thực tế đã có khá nhiều nghiên cứu ghi nhận việc lây nhiễm HIV/AIDS qua việc quan hệ tình dục bằng đường miệng.

Một nghiên cứu năm 1996-1999 trên 102 người nhận (receptive fellatio) trong quan hệ tình dục đường miệng, ghi nhận 8 trong 102 người đã nhiễm HIV/AIDs qua đường phương thức lây nhiễm này. Nghiên cứu khác được tiến hành tại Hà Lan ở người cho (insertive fellatio), nhiễm HIV/AIDs được ghi nhận 4/102 người.

Về quan hệ tình dục miệng - hậu môn ( anilungus), xét về mặt lý thuyết, lây nhiễm có thể xảy ra nếu có tổn thương da ở vùng hậu môn, hay có máu trong nước bọt ở ( ví dụ: viêm loét, chảy máu nướu). Trên thực tế, ghi nhận 1 trường hợp lây nhiễm qua con đường này.

Nguy cơ lây nhiễm

 



Các hình thức QHTD trên được giả định như không sử dụng bao cao su

Dựa vào bảng trên, nguy cơ lây nhiễm qua đường máu cao hơn rất nhiều lần so với lây truyền qua đường tình dục, hay nói cách khác, lây qua đường máu dễ hơn nhiều lần so với lây qua đường tình dục. Nhưng thực tế hiện nay, số người nhiễm HIV/AIDS qua đường máu ít hơn và có xu hướng giảm rõ rệt và lây truyền qua đường tình dục lại chiếm ưu thế. ( xem chương 2). Điều này được giải thích vì xét nghiệm HIV/AIDS ngày càng phổ biến, nên việc truyền máu có lẫn HIV xảy ra vô cùng hiếm hoi, đồng thời nguyên tắc sử dụng kim tiêm 1 lần đã hạn chế được rất nhiều nguyên cơ lây nhiễm này. Về lây truyền qua đường tình dục, lấy ví dụ nguy cơ lây nhiễm qua đường hậu môn là 5/1000, có nghĩa là 1000 người thì có 5 người bị nhiễm qua cách con đường này. Nhưng bảng nguy cơ lây nhiễm trên được ghi nhận cho chỉ sau 1 lần phơi nhiễm. Thực tế, quan hệ tình dục, thường bao gồm cả anal và oral, và thường quan hệ nhiều lần, nên nguy cơ lây nhiễm vì thế mà được cộng lại và nhân lên nhiều lần.

Xét riêng về từng nguy cơ lây nhiễm trong quan hệ tình dục, thì QTHD qua đường hậu môn nguy cơ lây nhiễm cao hơn QTHD qua âm đạo, và thấp nhất là QHTD qua đường miệng.

Nguy cơ lây nhiễm ở người nhận trong QTHD qua hậu môn rất cao, gấp khoảng 8 lần so với người cho qua đường hậu môn, 5 lần so với người nhận qua đường âm đạo. Điều này được lý giải vì niêm mạc trực tràng mỏng, không có chất nhày tự nhiên như ở âm đạo, nên dễ bị tổn thương hơn. Đồng thời, tại vùng này có rất nhiều mạch máu nông, nên khi tổn thương xảy ra, khả năng lây nhiễm rất cao. Mặt khác, ở người nhận, việc vệ sinh sau giao hợp khá là bất tiện
 

Tổng số điểm của bài viết là: 11 trong 3 đánh giá
Bạn click vào hình sao để cho điểm bài viết
Từ khóa: n/a

Những tin mới hơn

Những tin cũ hơn

 

Gửi bài viết

Thành viên tiêu biểu các chi nhánh năm 2012